Translation

NHỮNG NGÀY MÙA HẠ


Tập truyện ngắn của K.G. Paustovsky. Nguyên tác: Летние дни (1945). Minh Nguyễn dịch.

Minh họa: G.I. Epishin (1987)

Tất cả những gì được kể ở đây cũng có thể xảy ra với bất kỳ ai đọc cuốn sách này. Để những điều đó xảy ra, chỉ cần trải qua một mùa hạ ở những nơi có rừng cổ thụ, có hồ nước sâu thẳm, có những con sông với dòng nước trong veo, có bờ sông mọc đầy cỏ cao, có thú rừng,  có những chú bé làng quê và những cụ già lắm lời. Nhưng như thế vẫn chưa đủ đâu. Tất cả những gì được kể ở đây chỉ có thể xảy ra đối với những người ai đi câu cá.

Tôi và Ruvim, nhân vật được miêu tả trong cuốn sách này, cả hai chúng tôi đều tự hào vì thuộc về bộ tộc vĩ đại và vô tư của những người câu cá. Ngoài việc câu cá, chúng tôi còn viết sách nữa cơ.

Nếu ai đó nói với chúng tôi rằng họ không thích sách của chúng tôi, chúng tôi sẽ chẳng vì thế mà phật lòng. Người này thì thích cái này, người nọ thì thích cái kia — chả thể làm gì được. Nhưng nếu một kẻ ngạo mạn nào đó nói rằng chúng tôi không biết câu cá, chúng tôi sẽ không tha thứ cho hắn trong một thời gian khá dài.

Chúng tôi đã trải qua mùa hè trong rừng. Cùng với chúng tôi là một cậu bé mới quen – mẹ cậu ấy đi chữa bệnh ở vùng biển và đã nhờ chúng tôi đưa con trai mình đi theo cùng.

Chúng tôi vui vẻ nhận cậu bé đó, dù chúng tôi hoàn toàn không quen với việc chăm sóc trẻ con.

Hóa ra cậu bé lại là một người bạn tốt và một người đồng hành tuyệt vời. Khi trở về Moskva, da cậu rám nắng, cậu khỏe mạnh và vui vẻ hơn, đã quen với việc ngủ đêm trong rừng – quen với mưa, gió, nắng nóng và cái lạnh. Những cậu bé khác – lũ bạn của cậu ta, sau đó đã phải ghen tị với cậu. Và chúng ghen tị không phải là không có lý đâu – như các bạn sẽ thấy ngay bây giờ qua vài câu chuyện nhỏ.

Mục lục

Translation

MỘT MÓN QUÀ



Truyện ngắn của Konstantin Paustovsky, Minh Nguyễn dịch. Nguyên tác: Подарок, 1941
. Minh họa: G. Epishin.

Mỗi độ khi mùa thu đến gần, lại bắt đầu những cuộc trò chuyện về việc nhiều thứ trong thiên nhiên không diễn ra theo ý muốn của con người. Mùa đông ở chỗ chúng tôi dài và dai dẳng, mùa hè ngắn hơn nhiều so với mùa đông, còn mùa thu thì trôi qua nhanh chóng, để lại ấn tượng như một con chim vàng bay lướt qua khung cửa sổ.

Những cuộc trò chuyện này rất được cậu bé Vanya Malyavin, cháu nội của người kiểm lâm, yêu thích. Cậu khoảng mười lăm tuổi, thường từ căn chòi của ông nội bên hồ Urzhenskoye đi đến ngôi làng của chúng tôi, mang theo khi thì một giỏ nấm trắng, khi thì một rổ quả nam việt quất, có khi chỉ đơn giản là đến chơi, nghe chuyện và đọc tạp chí Vòng quanh thế giới.

Những cuốn tạp chí dày được đóng bìa nằm lộn xộn trong kho cùng với mái chèo, đèn lồng và một cái tổ ong cũ. Cái tổ ong được sơn bằng sơn keo trắng, nhưng lớp sơn đã bong tróc thành từng mảng lớn, để lộ lớp gỗ khô bên dưới vẫn phảng phất mùi sáp ong cũ.

Một ngày nọ, Vanya mang đến một cây bạch dương nhỏ còn nguyên rễ. Cậu cẩn thận bọc rễ bằng rêu ẩm và quấn lại bằng bao gai.

— Đây là tặng các chú, — cậu nói, mặt đỏ lên. — Một món quà. Hãy trồng nó vào một thùng gỗ và đặt trong phòng ấm áp – nó sẽ xanh tươi suốt mùa đông.

— Sao cháu lại đào nó lên thế, ngốc quá? — Ruvim hỏi.

— Các chú nói là còn tiếc mùa hè mà, — Vanya trả lời. — Ông nội bảo cháu làm vậy. “Ra chỗ đám rừng cháy năm ngoái, ở đó bạch dương con mọc dày như cỏ, chẳng có đường mà đi. Đào một cây đem đến cho Ruvim Isaevich” (ông gọi Ruvim như vậy). “Ông ấy cứ tiếc mùa hè, vậy thì hãy để ông có một ký ức về mùa hè trong suốt mùa đông lạnh giá. Nhìn thấy lá xanh khi ngoài trời tuyết rơi cũng vui đấy chứ.”

— Ta không chỉ tiếc mùa hè, mà tiếc mùa thu còn nhiều hơn thế, — Ruvim nói, nhẹ nhàng chạm vào những chiếc lá mỏng manh của cây bạch dương.

Chúng tôi mang một chiếc thùng từ kho ra, đổ đầy đất và trồng cây bạch dương nhỏ vào đó. Sau đó đặt thùng ở phòng sáng nhất, ấm nhất, gần cửa sổ. Chỉ sau một ngày, những cành cây rũ xuống đã vươn lên, cả cái cây trông vui tươi hẳn lên, và thậm chí lá còn xào xạc mỗi khi cơn gió lùa qua phòng làm cánh cửa đập mạnh.

Ngoài vườn, mùa thu đã về, nhưng lá trên cây bạch dương của chúng tôi vẫn xanh tươi. Những cây phong cháy đỏ, cây du hồng lên, nho dại trên giàn bắt đầu rụng lá. Ngay cả những cây bạch dương trong vườn cũng đã xuất hiện vài dải vàng, như những sợi tóc bạc đầu tiên trên mái tóc của một người đứng tuổi. Nhưng cây bạch dương trong phòng thì ngày càng trông như trẻ hơn. Chúng tôi không thấy ở nó bất cứ dấu hiệu nào của sự úa tàn.

Một đêm nọ, đợt sương giá đầu tiên tràn về. Nó phủ hơi lạnh lên cửa kính làm chúng mờ đi, rắc lớp băng mịn lên mái nhà, khiến mặt đất lạo xạo dưới chân. Chỉ có những vì sao dường như vui mừng với cái rét đầu tiên, lấp lánh rực rỡ hơn hẳn so với những đêm hè ấm áp. Đêm ấy, tôi bị đánh thức bởi một âm thanh kéo dài, dễ chịu – tiếng kèn mục đồng vang lên trong bóng tối. Ngoài cửa sổ, trời hửng sáng nhạt nhòa.

Tôi mặc đồ và bước ra vườn. Không khí lạnh buốt như nước dội vào mặt, làm tôi tỉnh táo ngay lập tức. Bình minh đang lên. Phía đông, màu xanh sẫm dần được thay bằng màn sương đỏ thẫm như khói của một đám cháy xa xăm. Màn sương sáng dần, trở nên trong suốt hơn, để lộ những vùng trời xa xôi đầy những đám mây vàng hồng nhẹ nhàng.

Không có gió, nhưng lá cứ rơi mãi trong vườn. Chỉ sau một đêm, những cây bạch dương đã vàng úa từ ngọn xuống gốc, lá rơi xuống như một cơn mưa buồn bã.

Tôi quay trở lại phòng – nó vẫn ấm áp và yên tĩnh. Trong ánh sáng nhợt nhạt của bình minh, cây bạch dương nhỏ trong thùng vẫn đứng đó. Nhưng rồi tôi chợt nhận ra – gần như toàn bộ lá của nó đã ngả vàng chỉ sau một đêm, và vài chiếc lá màu vàng chanh đã rụng xuống sàn.

Sự ấm áp trong phòng không thể cứu cây bạch dương. Chỉ sau một ngày, nó rụng sạch lá, như thể không muốn lạc lõng so với những cây bạch dương lớn ngoài rừng, nơi chúng đã trút lá trên những đồng cỏ ẩm ướt mùa thu.

Vanya Malyavin, Ruvim và tất cả chúng tôi đều buồn bã. Chúng tôi đã quen với ý nghĩ rằng trong những ngày đông tuyết phủ, cây bạch dương vẫn sẽ xanh tươi trong căn phòng ấm, nơi ánh lửa bập bùng trong lò sưởi. Nhưng kỷ niệm cuối cùng về mùa hè đã biến mất.

Ông kiểm lâm thân quen chỉ cười khi nghe về nỗ lực giữ cho lá xanh của chúng tôi.

— Đó là quy luật, — ông nói. — Quy luật của tự nhiên. Nếu cây không rụng lá vào mùa đông, chúng sẽ chết vì nhiều lý do – tuyết sẽ chất đống trên lá, làm gãy cả những cành to nhất; lá sẽ tích tụ quá nhiều muối có hại cho cây vào mùa thu; và quan trọng nhất, lá sẽ tiếp tục thoát hơi nước trong mùa đông, trong khi đất đóng băng không thể cung cấp nước cho rễ, khiến cây chết khô vì khát.

Còn cụ Mitry, biệt danh “Mười phần trăm”, khi biết chuyện cây bạch dương của chúng tôi, lại lý giải theo cách riêng của mình.

— Này cậu bạn, — cụ nói với Ruvim, — cứ sống đến tuổi ta đi, rồi hãy tranh cãi. Lúc nào cũng cãi nhau với ta, nhưng rõ ràng là cậu chưa có đủ thời gian để suy nghĩ thấu đáo. Người già bọn ta thì có ít lo nghĩ, nên có thời gian để suy xét mọi thứ trên đời. Cây bạch dương này cũng vậy. Đừng nói với ta về ông kiểm lâm, ta biết trước ông ấy sẽ nói gì. Ông ta là người khôn khéo, nghe đâu hồi ở Moskva ông ta còn nấu ăn bằng điện. Có phải như thế không?

— Có lẽ thế, — Ruvim đáp.

— Có lẽ, có lẽ! — cụ nhại lại. — Thế cậu đã thấy dòng điện bao giờ chưa? Làm sao thấy được khi nó vô hình như không khí? Giờ hãy nghe ta nói về cây bạch dương. Con người có tình bạn không? Có chứ. Nhưng họ lại nghĩ rằng chỉ họ mới biết đến tình bạn, vênh váo trước muôn loài. Nhưng tình bạn có ở khắp nơi. Bò cũng có bạn, chim sẻ cũng có bạn. Giết con hạc đực đi, thì con cái sẽ tiều tụy, khóc lóc, không biết đi đâu. Cây cối cũng vậy, chắc hẳn cũng có tình bạn. Làm sao cây bạch dương này không rụng lá khi tất cả bạn bè nó trong rừng đã trút lá hết rồi? Làm sao nó có thể đối diện với chúng vào mùa xuân nếu cả mùa đông nó được sưởi ấm bên bếp lửa, trong khi ngoài kia, chúng vật lộn trong giá lạnh?

— Ôi trời, cụ lại lý luận rồi, — Ruvim nói. — Chẳng thể tranh luận nổi với cụ.

Cụ già cười khúc khích.

— Đuối lý rồi chứ gì? Đầu hàng rồi à? Đừng có tranh luận với ta, vô ích thôi.

Cụ rời đi, chống gậy gõ cồm cộp, vẻ hài lòng, tin chắc rằng cụ đã thắng trong cuộc tranh luận này, thậm chí cả ông kiểm lâm cũng không thể cãi lại nổi.

Chúng tôi mang cây bạch dương ra trồng dưới hàng rào trong vườn, còn những chiếc lá vàng của nó, chúng tôi ép vào giữa những trang tạp chí Vòng quanh thế giới.

Đó là cái kết của nỗ lực giữ lại ký ức về mùa hè trong mùa đông của chúng tôi.

Translation

BỘ SƯU TẬP NHỮNG ĐIỀU KÌ DIỆU


Truyện ngắn của Konstantin Paustovsky, Minh Nguyễn dịch. Nguyên tác: Собрание чудес, 1946. Minh hoạ: K. Kuznetsov

Ai cũng vậy, kể cả những người nghiêm túc nhất, không kể đến những đứa trẻ, dĩ nhiên đều có cho riêng mình một ước mơ thầm kín và vui vẻ nho nhỏ. Tôi cũng có một ước mơ như vậy – đó là phải đến cho được hồ Borovoye.

Ngôi làng nơi tôi sống vào mùa hè năm ấy chỉ cách hồ hai mươi cây số. Mọi người ra sức can ngăn tôi đừng đi – rằng con đường đi thật nhàm chán, và rằng hồ này cũng giống như mọi cái hồ, xung quanh chỉ có rừng cây, những đầm nước khô và những lùm thạch nam. Bức tranh đó ai mà chẳng biết!

— Sao cậu lại cố tới đó, đến cái hồ ấy cơ chứ! – người gác vườn Semyon tức giận. –  Còn gì mà cậu chưa thấy? Thật là một người kén chọn, cầu kỳ. Chúa ơi! Mọi người thấy đấy, anh ta phải cào mọi thứ bằng tay, do thám tận mắt! Cậu đang tìm kiếm điều gì ở đó? Một khối nước. Và chẳng có gì hơn!

— Anh đã đến đó chưa?

— Đến cái hồ ấy thì có ích gì cho tôi cơ chứ! Tôi chẳng còn việc gì khác để làm hay sao? Mọi thứ, tất cả những công việc đang chờ tôi làm đều đang ở đây!” – Semyon gõ nắm tay lên chiếc cổ nâu của mình, vào ngay chỗ cục bướu!

Nhưng tôi vẫn cứ đi đến hồ. Có hai cậu nhóc trong làng nhập cuộc cùng với tôi – Lyonka và Vanya. Ngay sau khi chúng tôi ra khỏi rìa làng, sự đối nghịch hoàn toàn giữa hai nhân vật Lyonka và Vanya ngay lập tức lộ ra. Với Lyonka, mọi thứ mà cậu ta nhìn thấy xung quanh, đều được ước lượng ra bằng ruble.

— Xem kìa, – cậu ta nói với tôi với giọng lí nhí  – Con ngỗng đang đến ấy, chú nghĩ xem nó đáng bao nhiêu?

— Làm sao mà chú biết được!

— Có lẽ là một trăm rúp, – Lyonka mơ màng nói và ngay lập tức hỏi:  – Còn cây thông này sẽ hốt được bao nhiêu? Hai trăm rúp? Hay đến tận ba trăm?

— Cái đồ kế toán! – Vanya khinh bỉ nhận xét và khịt mũi. – Đầu óc chỉ đáng một xu thế mà cứ luôn hỏi giá mọi thứ. Mắt em chẳng còn muốn thấy cậu ta nữa.

Ngay sau đó Lyonka và Vanya dừng lại, và tôi nghe thấy cuộc đốp chát quen thuộc – báo hiệu cho một cuộc chiến. Nó bao gồm, như thường lệ, chỉ gồm các câu hỏi và câu cảm thán.

— Đầu óc của ai chỉ đáng một xu? Của tớ à?

— Chắc là không phải của tớ rồi!

— Nhìn kĩ đi!

— Cậu tự nhìn lại mình đi!

— Đừng có mà chộp nó! Mũ này đâu có phải được may cho cậu!

— Ôi, nói như thể là tớ sẽ không xô cậu theo cách của tớ ấy nhỉ!

— Câu đừng có mà dọa nhé! Tránh ra xa khỏi mũi tớ đi!

Cuộc chiến diễn ra ngắn ngủi nhưng mang tính quyết định, Lyonka nhặt mũ lưỡi trai, nhổ nước bọt và giận dỗi bỏ đi, quay trở về làng.

Tôi bắt đầu mắng Vanya.

— Cố nhiên là thế rồi! – Vanya bồn chồn nói. – Em đã bốc đồng gây sự. Mọi người đều gây sự với cậu ta, với Lyonka. Cậu ta thật là nhàm chán! Nếu cho cậu ta tự tung tự tác thì cái gì cậu ta cũng định ra giá tiền, cứ như trong hàng bách hóa ở làng. Cho đến tận từng bông lúa. Và chắc chắn cậu ta sẽ đốn hạ cả khu rừng xuống, chặt ra để làm củi. Và em sợ hơn bất cứ điều gì khác trên đời khi cánh rừng bị chặt phá. Em sợ đến phát khiếp!

— Tại sao lại thế?

— Ôxy có từ rừng. Khi những khu rừng bị chặt phá, bầu ôxy sẽ trở nên loãng và yếu dần. Và trái đất sẽ không còn khả năng hút, giữ nó lại gần với mặt đất nữa. Nó sẽ bay đi mất! – Vanya chỉ lên bầu trời buổi sáng trong lành. – Sẽ không còn gì cho con người thở. Bác kiểm lâm đã giải thích với em như vậy.

Chúng tôi leo lên một sườn đồi và bước vào một khu rừng sồi nhỏ. Lập tức, lũ kiến đỏ bắt đầu tấn công chúng tôi. Chúng bám đầy chân và rơi từ cành cây xuống cổ áo. Hàng chục con đường kiến rải cát kéo dài giữa những cây sồi và cây bách xù. Thỉnh thoảng, một con đường như vậy chạy qua một đường hầm dưới rễ cây sồi gồ ghề rồi lại ngoi lên mặt đất. Dòng kiến di chuyển trên những con đường này không ngừng nghỉ. Một chiều chúng chạy tay không, còn chiều kia thì tha hàng về — những hạt cây trắng, những cẳng chân khô của bọ cánh cứng, ong bắp cày chết và sâu róm lông rậm.

— Phù hoa quá! — Vanya nói. — Như ở Moskva vậy. Có một ông già từ Moskva đến khu rừng này mỗi năm để lấy trứng kiến. Ông ta chở đi từng bao tải. Đó là thức ăn tốt nhất cho chim. Dùng để câu cá cũng rất tốt. Chú chỉ cần một cái lưỡi câu nhỏ xíu thôi!

Sau khu rừng sồi, ở rìa rừng, bên con đường cát lún, có một cây thánh giá nghiêng với một bức tượng nhỏ bằng thiếc đen. Những con bọ rùa đỏ có chấm trắng bò trên cây thánh giá. Gió nhẹ thổi vào mặt từ những cánh đồng yến mạch. Đám yến mạch xào xạc, uốn cong, và những làn sóng bạc chạy qua chúng.

Sau cánh đồng yến mạch, chúng tôi đi qua làng Polkovo. Tôi đã nhận thấy từ lâu rằng hầu hết các nông dân ở Polkovo đều khác với cư dân xung quanh bởi chiều cao vượt trội.

— Dân Polkovo cao lớn thật! — Dân Zaborye như chúng tôi nói với vẻ ghen tị. — Cao như lính gác! Như tay trống!

Ở Polkovo, chúng tôi ghé vào nhà Vasily Lyalin để nghỉ chân — một ông già cao lớn, đẹp trai với bộ râu lốm đốm trắng. Những mảng tóc bạc lòa xòa trong mái tóc đen rậm rạp của ông.

Khi chúng tôi bước vào nhà Lyalin, ông hét lên:

— Cúi đầu xuống! Cẩn thận cái đầu! Ai cũng đập trán vào khung cửa hết cả! Dân Polkovo cao lớn quá mà chẳng khéo chút nào, — nhà thì xây theo kiểu người lùn.

Trong lúc trò chuyện với Lyalin, cuối cùng tôi cũng biết được tại sao dân làng Polkovo lại cao lớn như vậy.

— Có câu chuyện cả đấy! — Lyalin nói. — Các cậu nghĩ bọn ta cao lên vô cớ à? Ngay cả con bọ nhỏ cũng có lý do tồn tại của nó.

Vanya cười khúc khích.

— Đừng vội cười! — Lyalin nghiêm nghị nói. — Cậu nhóc chưa học được đủ nhiều để mà cười đâu. Nghe đây nhé. Ở Nga có một ông vua ngốc nghếch — Hoàng đế Pavel. Có hay không nào?

— Có, — Vanya nói. — Bọn cháu có học rồi.

— Có đấy, nhưng ông ta chết lâu rồi. Và ông ta đã gây ra bao nhiêu chuyện khiến đến giờ bọn ta vẫn còn bị ảnh hưởng. Một ông vua hung dữ. Binh sĩ trong buổi duyệt binh mà liếc mắt sai hướng, ông ta lập tức nổi khùng và gầm lên: “Đày đi Siberia! Cho đi lao động khổ sai! Đánh ba trăm roi!” Ông vua đó là thế đấy! Rồi có một chuyện thế này, — có một trung đoàn lính gác không làm ông ta vừa lòng. Ông ta hét lên: “Tiến quân theo hướng chỉ định, cách đây một ngàn dặm! Đi bộ! Đến tới nơi thì ở lại đó vĩnh viễn!” Và ông ta chỉ tay về một hướng. Thế là trung đoàn quay đầu và bắt đầu bước đi. Biết làm sao được! Họ đi bộ ba tháng trời và đến được chỗ này. Xung quanh toàn rừng rậm không lối thoát. Một vùng hoang vu. Họ dừng lại, bắt đầu dựng nhà, nhào đất sét, xây lò sưởi, đào giếng. Họ xây nên ngôi làng và đặt tên là Polkovo, để người đời nhớ rằng có cả một trung đoàn đã xây dựng và sinh sống ở đây. Sau đó, dĩ nhiên là có lệnh giải phóng, nhưng lính tráng đã quen với vùng đất này, và hầu hết ở lại đây luôn. Vùng đất này, các cậu thấy đấy, thật trù phú. Những người lính đó — những tay lính gác và những gã khổng lồ — là tổ tiên của bọn ta. Từ họ mà bọn ta có chiều cao này. Nếu không tin, cứ đến thành phố, vào bảo tàng. Ở đó họ sẽ cho các câu xem các tài liệu. Mọi thứ đều được ghi chép rõ ràng. Và các cậu cứ nghĩ mà xem, — nếu họ đi thêm hai dặm nữa là đến sông, họ sẽ dừng lại ở đó. Nhưng không, họ không dám trái lệnh, — dừng lại đúng chỗ. Dân chúng đến giờ vẫn ngạc nhiên. “Sao các ông, những người lính ấy, lại chui vào ở trong rừng thế? Chẳng lẽ không có chỗ nào gần sông à? Cao to thế mà đầu óc có vẻ không được sáng suốt lắm nhỉ”. Rồi sau khi giải thích cho họ nghe mọi chuyện xảy ra như thế nào, họ mới gật gù. “Họ nói rằng không thể chống lệnh! Đó là chân lý!”

Vasily Lyalin xung phong dẫn chúng tôi đến rừng, chỉ đường đến hồ Borovoe. Đầu tiên chúng tôi đi qua một cánh đồng cát mọc đầy cỏ bất tử và ngải cứu. Sau đó, những lùm thông non chạy ùa ra đón chúng tôi. Rừng thông chào đón chúng tôi bằng sự tĩnh lặng và mát mẻ sau những cánh đồng nóng bức. Cao trên những tia nắng xiên, những con chim sáo xanh bay lượn như đang bùng sáng lên. Những vũng nước trong veo nằm trên con đường mọc đầy cỏ, và phản qua những vũng nước xanh ấy, mây đang trôi lững lờ. Mùi dâu tây, mùi gốc cây ấm nóng tỏa ra. Những giọt sương hay mưa hôm qua lấp lánh trên lá cây phỉ. Tiếng quả thông rơi vọng vang.

— Một khu rừng tuyệt vời! — Lyalin thở dại — Gió sẽ thổi, và những cây thông này sẽ rền vang như chuông.

Rồi đám thông nhường lối cho những cây bạch dương, và ánh nước lấp lóe lên phía sau chúng.

— Hồ Borovoye đây ư? — Tôi hỏi.

— Chưa đâu. Để đến Borovoye thì còn phải đi tiếp nữa. Đây là hồ Larinoye. Đi nào, nhìn xuống nước xem, mê mẩn luôn.

Nước ở hồ Larinoye sâu và trong vắt đến đáy. Chỉ ở gần bờ là hơi gợn sóng, — nơi một dòng suối chảy từ dưới lớp rêu vào hồ. Dưới đáy có vài thân cây lớn màu tối. Chúng lấp lánh ánh sáng mờ nhạt khi mặt trời chiếu tới.

— Gỗ sồi đen, — Lyalin nói. — Gỗ ngâm lâu năm, cả thế kỷ ấy chứ. Bọn ta từng kéo được một cây lên, nhưng rất khó mà làm gì được với nó. Nó làm gãy luôn cả cưa ấy chứ. Nhưng nếu làm những vật dụng — như cán lăn bột hay đòn gánh — thì bền mãi mãi! Gỗ này nặng, chìm trong nước.

Mặt trời lấp lánh trên mặt nước tối. Dưới nước là những cây sồi cổ thụ, như được đúc từ thép đen. Bướm bay lượn trên mặt nước, phản chiếu xuống như những cánh hoa vàng và tím.

Lyalin dẫn chúng tôi ra một con đường vắng.

— Đi thẳng, — ông chỉ, — cho đến khi thấy đồng rêu, đầm lầy khô. Từ đó có lối mòn dẫn đến hồ. Nhưng phải đi cẩn thận, — ở đó nhiều cọc nhọn lắm.

Ông chào tạm biệt và rời đi. Tôi và Vanya đi theo con đường rừng. Rừng càng lúc càng cao, bí ẩn và tối hơn. Nhựa vàng đọng thành dòng trên những thân thông.

Ban đầu còn thấy dấu bánh xe, lâu rồi mọc đầy cỏ, nhưng sau đó chúng biến mất, và những đám thạch thảo hồng phủ kín đường như những tấm thảm khô vui mắt.

Con đường dẫn chúng tôi đến một vách đá thấp. Bên dưới là đồng rêu — rừng cây bạch dương và hoàn diệp liễu dày đặc, ấm nóng đến tận rễ. Những cây nhỏ mọc lên từ lớp rêu sâu. Trên rêu rải rác những đám hoa vàng nhỏ và cành khô phủ địa y trắng.

Một lối mòn hẹp dẫn qua đồng rêu. Nó vòng qua những mô đất cao. Cuối lối mòn, nước ánh lên màu xanh đen — hồ Borovoye.

Chúng tôi cẩn thận đi qua đồng rêu. Từ dưới rêu nhô lên những cọc nhọn như giáo — tàn dư của thân bạch dương và hoàn diệp liễu. Rồi đến những bụi việt quất. Mỗi quả có hai bên má — bên hướng nam thì đỏ chín, còn bên còn lại mới bắt đầu ửng hồng. Một con gà gô nặng nề bay ra từ sau mô đất rồi chạy vào chỗ rừng thấp, đạp gãy cả cành khô.

Chúng tôi đến được hồ. Những đám cỏ cao quá thắt lưng mọc dọc bờ. Nước vỗ vào rễ cây cổ thụ. Một chú vịt trời con nhảy ra từ dưới đám rễ và bơi trên mặt nước với tiếng kêu tuyệt vọng.

Nước ở hồ Borovoye đen lánh và sạch. Những đảo hoa súng trắng nở trên mặt nước, tỏa mùi thơm ngọt ngào. Cá quẫy, làm cho những bông súng đung đưa.

— Thật tuyệt vời! — Vanya nói. — Hãy ở lại đây luôn đi, cho đến khi chúng ta hết bánh quy thì thôi.

Tôi đồng ý. Chúng tôi đã ở lại hồ hai ngày. Chúng tôi ngắm hoàng hôn, ngắm trời chạng vạng, và mớ hỗn độn của cây cỏ hiện lên trong ánh lửa trại. Chúng tôi nghe tiếng kêu của lũ ngỗng trời và âm thanh của mưa đêm. Mưa không lâu, khoảng một tiếng đồng hồ, tí tách trên mặt hồ, như kéo những sợi dây mỏng manh như tơ nhện, rung rinh giữa bầu trời đen và mặt nước.

Đó là tất cả những gì tôi muốn kể. Nhưng kể từ đó, tôi không còn tin khi ai đó nói rằng trên đất nước chúng ta có những nơi buồn tẻ, không mang lại thức ăn cho tai, mắt và trí tưởng tượng hay suy nghĩ của con người.

Chỉ bằng cách khám phá một mảnh đất nhỏ của đất nước, ta mới hiểu nó đẹp đến nhường nào và trái tim ta gắn bó ra sao với từng lối mòn, từng dòng suối, và với cả tiếng kêu rụt rè của một chú chim rừng.